Tư liệu văn hóa Tày có ghi rõ tác giả và giấy phép.
Ảnh tư liệu lấy từ kho mở Wikimedia Commons, bài đọc lấy từ Wikipedia tiếng Việt. Mỗi mục đều dẫn về trang gốc để người xem tự kiểm chứng và để tôn trọng bản quyền của người chụp.
Ảnh tư liệu
41 ảnh
Bài đọc
13 bài
Cập nhật
2026-08-15
Bản quyền tư liệu
Ảnh lấy từ Wikimedia Commons, bài đọc lấy từ Wikipedia tiếng Việt. Mỗi tư liệu đều kèm tác giả, giấy phép và liên kết tới trang gốc.
Bài đọc nền tảng
Dân tộc2 phút đọc
Người Tày
Người Tày, với các nhóm địa phương là Pa dí, Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao, là một trong số 54 dân tộc tại Việt Nam, là dân tộc lớn thứ hai sau người Kinh. Người Tày nói tiếng Tày, một ngôn ngữ thuộc ngữ chi Thái của hệ ngôn ngữ Kra-Dai. Người Tày sinh sống chủ yếu ở vùng miền núi thấp phía bắc Việt Nam. Người Tày trước đây hay được gọi là người Thổ (tuy nhiên tên gọi này hiện nay được dùng để chỉ người Mường Nghệ An, xem bài người Thổ). Người Tày có dân số đông thứ 2 ở Việt Nam. Người Tày, Nùng có nguồn gốc và mối quan hệ gần gũi với người Tráng tại Quảng Tây, Trung Quốc.
Tiếng Tày (tiểng Tày) là tiếng nói của người Tày, một ngôn ngữ thuộc ngữ chi Thái trong hệ ngôn ngữ Tai-Kadai. Tiếng Tày có quan hệ gần gũi với tiếng Nùng, tiếng Tráng ở mức trao đổi trực tiếp được, và giao tiếp được với người nói tiếng Lào, tiếng Thái.
Chữ Nôm Tày là chữ viết của người Tày - dân tộc sinh sống chủ yếu ở miền bắc Việt Nam. Chữ Nôm Tày được xây dựng trên cơ sở các nét, các bộ thủ và các chữ Hán nguyên bản theo ba yếu tố hình – âm – nghĩa, trong đó về ngữ âm là sử dụng âm Hán – Việt. Những cách thức hình thành chữ Nôm Tày bao gồm: Vay mượn chữ Hán toàn diện cả hình, nghĩa và âm Hán – Việt. Ví dụ: nhật (日), nguyệt (月), phụ (父), mẫu (母). Giữ hình và nghĩa của chữ Hán, nhưng đọc theo âm tiếng Tày. Ví dụ: chữ mã (馬) nghĩa là ngựa, tiếng Tày đọc là mạ, nghĩa là ngựa. Giữ nguyên hình và âm của chữ Hán nhưng đổi nghĩa theo âm chữ Tày trùng với âm Hán Việt. Ví dụ: chữ xa (車) nghĩa là xe, tiếng Tày đọc là xa, nghĩa là tìm. Giữ hình của chữ Hán, nhưng đổi hẳn âm và nghĩa. Ví dụ: chữ lạc (樂) nghĩa là vui vẻ, tiếng Tày đọc là mjạc, nghĩ
Hát then là một thể loại dân ca tín ngưỡng của cộng đồng người Tráng, cũng như các dân tộc Tày và Nùng, gắn liền với nghi lễ Then. Hát then thường mang hình thức trường ca, có màu sắc tín ngưỡng, thuật lại cuộc hành trình lên thiên giới để cầu xin Ngọc Hoàng giải quyết những vấn đề của gia chủ. Từ then được cho là cách đọc chệch của từ thiên (Hán-Việt: 天; bính âm: tiān) trong tiếng Tráng, mang nghĩa là "trời". Người Tráng ở Trung Quốc, cũng như người Tày và người Nùng, quan niệm hát then là hình thức tế Trời (tức Ông Trời, hay Ngọc Hoàng sau khi chịu ảnh hưởng của Đạo giáo).
Tính tẩu (hay tinh tẩu) (còn gọi là đàn Tính hay đàn Tẩu) (tiếng Trung: 天琴; Hán-Việt: thiên cầm; bính âm: Tiān qín) là nhạc cụ của người Choang ở Trung Quốc , người Tày, người Nùng, người Thái ở Việt Nam và vài vùng thuộc Lào, Thái Lan người ta nhận thấy cũng có nhạc cụ này. Trong tiếng Tày, tính đọc chệch từ chữ thiên (天, tiān) có nghĩa là trời nhưng người Tày cố dịch từ đó là đàn, còn tẩu là bầu (quả bầu), dịch ra tiếng Việt, tính tẩu có nghĩa là đàn bầu hay đàn then. Để khỏi nhầm lẫn với loại đàn bầu của người miền xuôi, nhiều người gọi tính tẩu là đàn tính nhưng nếu dịch ra "đàn bầu" thì sai. Do đó chỉ cần hiểu đàn tính là cách gọi tắt của đàn tính tẩu. Đối với dân tộc Choang ở Trung Quốc hay người Tày ở Việt Nam thì thiên cầm (tức đàn tính) là nhạc cụ chính dùng để độc tấu, đệm hát và
Lễ hội Lồng tồng là một lễ hội của dân tộc người Tày và được xem là hoạt động tín ngưỡng cầu trời cho mưa thuận gió hòa, cây cối tốt tươi, mùa màng bội thu, đời sống ấm no cơm áo đầy đủ. Lễ hội tổ chức tại những ruộng được cho là tốt nhất, to nhất.
Nhà sàn là một kiểu nhà được dựng trên các cột phía trên mặt đất hay mặt nước. Tại châu Âu, trong thời kỳ đồ đá mới và thời kỳ đồ đồng, nhà sàn khá phổ biến trong khu vực Alps. Chẳng hạn, các dấu tích được tìm thấy tại các hồ Mondsee và Attersee trong khu vực Thượng Austria. Các nhà khảo cổ học đầu tiên, như Ferdinand Keller cho rằng chúng tạo thành các đảo nhân tạo, giống như các Crannog tại Scotland, nhưng hiện nay người ta đã nhận thấy là phần lớn các khu định cư này đã từng nằm trên các bờ hồ và chỉ bị ngập về sau này. Việc tái tạo lại các nhà sàn này được trưng bày tại các viện bảo tàng ngoài trời ở Unteruhldingen và Zürich (Pfahlbauland). Một kiểu nhà sàn của khu vực Scandinavia, nhà sàn Alvastra, cũng đã được khai quật tại Thụy Điển. Ngày nay, các kiểu nhà sàn còn khá phổ biến tại m
Cao Bằng là một tỉnh miền núi thuộc vùng Đông Bắc Bộ, miền Bắc, Việt Nam. Theo dữ liệu Sáp nhập tỉnh, thành Việt Nam 2025, Cao Bằng có diện tích: 6.700 km², xếp thứ 23; dân số: 573.119 người, xếp thứ 33; GRDP 2024: 25.203.769 triệu VNĐ , xếp thứ 34; thu ngân sách 2024: 2.476.011 triệu VNĐ, xếp thứ 33; thu nhập bình quân: 30,70 triệu VNĐ/năm, xếp thứ 32.
Hồ Ba Bể là một hồ nước ngọt ở Thái Nguyên, Việt Nam. Đây là hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất Việt Nam và là một trong một trăm hồ nước ngọt lớn nhất thế giới. Hồ nằm trong Vườn quốc gia Ba Bể, nơi đây được công nhận là khu du lịch quốc gia Việt Nam.
Thổ cẩm là loại hàng vải dệt thủ công giàu họa tiết và các họa tiết này thường nổi lên mặt vải giống như được thêu. Ở Trung Quốc cũng như các quốc gia Đông Nam Á, thổ cẩm thường để chỉ loại vải tự dệt, có hoa văn dệt theo phương pháp truyền thống của các dân tộc thiểu số ở miền núi.
Người Nùng, là một trong số 54 nhóm sắc tộc được chính phủ Việt Nam chính thức phân loại. Người Nùng nói tiếng Nùng, là ngôn ngữ thuộc ngữ chi Tai của ngữ hệ Tai-Kadai. Người Nùng có văn hóa, ngôn ngữ giống với dân tộc Tày và với một số nhánh người Tráng tại Trung Quốc. Người Nùng sống tập trung ở các tỉnh đông bắc Bắc Bộ như Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Tuyên Quang v.v (chiếm tới 84%). Hiện tại, một lượng lớn đã di cư vào các tỉnh Tây Nguyên (11 %), chủ yếu tại Đắk Lắk. Quá trình di cư này bắt đầu vào năm 1954, khi Việt Minh kiểm soát miền bắc Việt Nam. Người Nùng có quan hệ gần gũi với người Tày và người Tráng sống dọc biên giới với Trung Quốc. Tại Trung Quốc, người Nùng cùng với người Tày được xếp chung vào dân tộc Tráng.
Nhóm ngôn ngữ Thái (Tai) (còn gọi là Nhóm ngôn ngữ Tráng-Thái) là một Nhóm ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Tai-Kadai. Nhóm ngôn ngữ này bao gồm các ngôn ngữ như tiếng Tráng, tiếng Bố Y, tiếng Thái Lặc, tiếng Thái Na (tại Trung Quốc), tiếng Thái (tại Thái Lan), tiếng Lào, tiếng Shan, tiếng Tày, tiếng Nùng v.v.